đọc tin mừng như thế nào
4 Anh em đọc thì có thể thấy rõ tôi am hiểu mầu nhiệm Đức Ki-tô thế nào. 5 Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Người.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.25 Khi ấy, có người thông luật kia muốn thử Đức Giê-su mới đứng lên hỏi Người rằng : "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ?" 26 Người đáp : "Trong Luật đã viết gì ? Ông đọc thế nào ?" 27 Ông ấy thưa : "Ngươi phải yê
Nhưng nhìn lại bìa tạp chí những năm về trước có sự xuất hiện của các người đẹp như Hà Hồ, Ngô Thanh Vân và Thanh Hằng có thể thấy thần thái của thế hệ người mẫu đời đầu "không phải dạng vừa". Hà Hồ
Bạn tìm hiểu thông tin về chó bị tiêu chảy và nôn bỏ an .Đây là một chủ đề đang được nhiều đọc giả của Vpet quan tâm. Trong bài viết này Vpet sẽ giải đáp thắc mắt và tổng hợp cho các bạn25 điều cần biết về chó bị tiêu chảy và nôn bỏ an. Hãy cùng xem hết bài viết này nhé.
Linh mục đọc Tin Mừng như thế nào ? (QC 95; NTGM 74, RM 425) Ngài đứng ở giảng đài quay về phía dân chúng, tay chắp, chào dân chúng: Chúa ở cùng anh chị em, lấy ngón cái phải ghi dấu thánh giá chỗ đầu bài Tin Mừng và đọc: Tin Mừng Chúa Giêsu theo…, rồi ghi dấu thánh giá
Rencontre Dans Le Train De Nuit. Maria Valtorta Khi con người kết thúc cuộc sống tạm này để bước vào cõi sống đời đời, thì điều khiến cho con người lấy làm hối tiếc nhất là đã “không yêu mến Chúa Giêsu cho đủ” lúc còn sống trên trần gian này. Để có thể yêu mến Chúa Giêsu, chúng ta phải hiểu được Người. Để hiểu được Người và củng cố đức tin nơi Người, chúng ta phải đọc Tin Mừng. Tuy nhiên, đối với nhiều người thì Tin Mừng được viết quá cô đọng và khó hiểu. Để giúp cho mọi người có thể hiểu được Tin Mừng, Chúa Giêsu đã chọn những linh hồn hiến tế để tỏ bày Tin Mừng của Người, nhờ đó tất cả chúng ta đều có thể hiểu được Tin Mừng một cách thâm sâu nhất. “TIN MỪNG NHƯ ĐÃ MẶC KHẢI CHO TÔI” qua thụ khải Maria Valtorta là sự tỏ bày tình yêu chân thành nhất của Chúa Giêsu để mọi tâm hồn được đánh động nếu chúng ta mở lòng ra đón nhận và đọc.
Không lâu nữa, Đức Giê-hô-va sẽ xóa bỏ mọi vấn đề của chúng ta qua Nước Trời. Đây là tin tuyệt vời, nên mọi người cần được biết. Chúa Giê-su muốn các môn đồ ngài chia sẻ tin mừng này cho muôn dân! Ma-thi-ơ 2819, 20. Nhân Chứng Giê-hô-va làm theo mệnh lệnh của Chúa Giê-su như thế nào? 1. Ma-thi-ơ 2414 đang được ứng nghiệm ngày nay như thế nào? Chúa Giê-su báo trước “Tin mừng này về Nước Trời sẽ được rao truyền khắp đất” Ma-thi-ơ 2414. Nhân Chứng Giê-hô-va rất vui mừng được tham gia công việc quan trọng này. Chúng tôi đang rao truyền tin mừng trên khắp thế giới trong hơn ngôn ngữ! Công việc với quy mô rộng lớn này cần rất nhiều nỗ lực và sự tổ chức. Công việc này không thể thực hiện nếu không có sự trợ giúp của Đức Giê-hô-va. 2. Chúng tôi nỗ lực như thế nào để rao giảng cho người ta? Chúng tôi rao giảng ở bất cứ nơi đâu có thể gặp người ta. Như các tín đồ vào thế kỷ thứ nhất, chúng tôi rao giảng “từ nhà này sang nhà kia” Công vụ 542. Phương pháp rao giảng có hệ thống này giúp chúng tôi mang tin mừng đến cho hàng triệu người mỗi năm. Vì không phải lúc nào người ta cũng ở nhà nên chúng tôi còn rao giảng ở nhiều nơi công cộng. Chúng tôi luôn tìm cơ hội để chia sẻ với người khác về Đức Giê-hô-va và ý định của ngài. 3. Ai có trách nhiệm rao giảng tin mừng? Mọi tín đồ chân chính đều có trách nhiệm chia sẻ tin mừng với người khác. Chúng tôi xem đây là một trọng trách. Chúng tôi rao giảng hết khả năng của mình vì biết rằng tin mừng có thể cứu mạng người ta. Đọc 1 Ti-mô-thê 416. Chúng tôi làm việc này không lương, vì Kinh Thánh nói “Anh em đã nhận không thì hãy cho không” Ma-thi-ơ 107, 8. Không phải ai cũng hưởng ứng nhưng chúng tôi vẫn kiên trì rao giảng, vì công việc này là một phần của sự thờ phượng và làm Đức Giê-hô-va vui lòng. ĐÀO SÂU Hãy tìm hiểu thêm về nỗ lực của Nhân Chứng Giê-hô-va để rao giảng tin mừng ra khắp đất, và cách Đức Giê-hô-va giúp đỡ chúng tôi. Công việc rao giảng trên thế giới A Costa Rica, B Hoa Kỳ, C Benin, D Thái Lan, E Yap, F Thụy Điển 4. Chúng tôi nỗ lực mang tin mừng đến cho mọi người Nhân Chứng Giê-hô-va dồn mọi nỗ lực để rao giảng tin mừng cho người ở khắp nơi. Mở VIDEO, rồi thảo luận câu hỏi bên dưới. Bạn ấn tượng điều gì về nỗ lực rao giảng của Nhân Chứng Giê-hô-va? Đọc Ma-thi-ơ 2239 và Rô-ma 1013-15, rồi thảo luận các câu hỏi sau Tại sao công việc rao giảng cho thấy chúng tôi yêu người lân cận? Đức Giê-hô-va cảm thấy thế nào về những người rao giảng tin mừng?—Xem câu 15. 5. Chúng tôi là người cùng làm việc với Đức Chúa Trời Có nhiều kinh nghiệm cho thấy Đức Giê-hô-va đang hướng dẫn công việc của chúng tôi. Ví dụ, ở New Zealand, một anh tên là Paul đã gặp một phụ nữ khi rao giảng từng nhà vào buổi chiều nọ. Ngay sáng hôm đó, người phụ nữ đã cầu nguyện với Đức Chúa Trời, dùng danh của ngài là Giê-hô-va, và cầu xin ngài phái người đến thăm mình. Anh Paul kể “Ba tiếng sau thì tôi đến nhà chị ấy rao giảng”. Đọc 1 Cô-rinh-tô 39, rồi thảo luận câu hỏi sau Làm thế nào những kinh nghiệm như kinh nghiệm trên cho thấy Đức Giê-hô-va đang hướng dẫn công việc rao giảng? Đọc Công vụ 18, rồi thảo luận câu hỏi sau Để chu toàn công việc rao giảng, tại sao cần sự trợ giúp của Đức Giê-hô-va? Bạn có biết? Mỗi tuần, chúng tôi nhận được sự huấn luyện về cách rao giảng tại buổi họp giữa tuần. Nếu bạn từng tham dự một trong những buổi họp ấy, bạn nghĩ gì về sự huấn luyện đó? 6. Chúng tôi rao giảng theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời Vào thế kỷ thứ nhất, những người chống đối cố khiến môn đồ Chúa Giê-su ngưng rao giảng. Những tín đồ thời ấy đã bênh vực quyền của mình qua việc “tìm cách hợp pháp hóa quyền rao giảng tin mừng” Phi-líp 17. Ngày nay, Nhân Chứng Giê-hô-va cũng làm thế. a MỘT SỐ NGƯỜI HỎI “Tại sao Nhân Chứng Giê-hô-va đến nhà người ta rao giảng?”. Bạn sẽ trả lời thế nào? ĐIỂM CHÍNH Chúa Giê-su đã chỉ thị cho các môn đồ rao giảng tin mừng cho muôn dân. Đức Giê-hô-va đang trợ giúp dân ngài thực hiện công việc này. Ôn lại Tin mừng đang được rao truyền trên khắp thế giới như thế nào? Tại sao công việc rao giảng cho thấy chúng tôi yêu người lân cận? Bạn nghĩ công việc rao giảng có thể mang lại sự thỏa nguyện không? Tại sao? Ngày hoàn tất bài KHÁM PHÁ
Trong buổi tiếp kiến chung dành cho các tín hữu vào sáng thứ Tư 1/9/2021 Đức Thánh Cha nhắn nhủ các tín hữu rằng khi nói với người Galát, thánh Phaolô cũng nói với chúng ta; ngài mời gọi mỗi người chúng ta hãy vui mừng trong ơn công chính hoá mà chúng ta đã nhận được nhờ tin vào Chúa Kitô và trở nên chứng nhân thuyết phục về tình yêu thương xót của Thiên Chúa trong cách chúng ta sống cuộc sống hàng ngày của mình. Đức Thánh Cha cũng mời gọi các tín hữu suy nghĩ xem mình sống đức tin như thế nào. Hồng Thủy - Vatican News Đức Thánh Cha tiếp tục loạt bài giáo lý về thư thánh Phaolô gửi tín hữu Galát. Trong đoạn thư được đọc khi bắt đầu buổi tiếp kiến, thánh Phaolô đã quở trách các tín hữu Galát là những người ngu xuẩn; ngài cảnh báo họ trước nguy hiểm lìa xa đức tin vào Chúa Kitô. Thánh nhân nói với họ “Ai đã mê hoặc anh em là những người đã được thấy hình ảnh Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá phơi bày ra trước mắt? Tôi muốn anh em cho tôi biết điều này thôi anh em đã nhận được Thần Khí vì đã làm những gì Luật dạy, hay vì đã tin nhờ được nghe? Anh em ngu xuẩn như thế sao? Anh em đã khởi sự nhờ Thần Khí, nay lại kết thúc nhờ xác thịt sao? Đức Thánh Cha giải thích với các tín hữu rằng trong thư gửi tín hữu Galát, thánh Phaolô nhấn mạnh đến sự mới mẻ của sự sống trong Chúa Kitô, là điều giúp các Kitô hữu thoát khỏi việc thực hành tôn giáo chỉ dựa trên việc tuân giữ tỉ mỉ các giới luật. Thánh Phaolô nhắc nhở người Galát về ơn cứu độ mà họ nhận được nhờ đức tin vào sứ điệp của Phúc âm về sự chết và sự phục sinh của Chúa Kitô, và kinh nghiệm của họ về việc được tràn đầy Thần Khí. Thánh nhân cũng trình bày kinh nghiệm cá nhân của ngài về ân sủng và sự tự do do do đức tin vào Chúa Giêsu bị đóng đinh mang lại Gl 2,20. Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý như sau Nguy hiểm xa rời con đường đức tin và bị rơi vào chủ nghĩa hình thức Anh chị em thân mến, chào anh chị em! Trong các bài giáo lý trước, chúng ta đã thấy thánh Tông đồ Phaolô chỉ cho các Kitô hữu đầu tiên của Galát thấy rằng khi rời khỏi con đường họ đã bắt đầu khi đón nhận Phúc Âm thì nguy hiểm thế nào. Thực tế, điều nguy hiểm chính là rơi vào chủ nghĩa hình thức - là một trong những cám dỗ dẫn chúng ta đến thói đạo đức giả, điều mà chúng ta đã nói lần trước - và phủ nhận phẩm giá mới mà họ đã nhận được phẩm giá của những người được Chúa Kitô cứu chuộc. Đoạn sách Thánh chúng ta vừa nghe bắt đầu phần thứ hai của lá thư anh chị em hãy đọc nó nếu có thời gian. Cho đến lúc này, thánh Phaolô đã nói về cuộc đời và ơn gọi của ngài về cách mà ân sủng của Thiên Chúa đã biến đổi cuộc sống của ngài và dành nó hoàn toàn cho sứ vụ loan báo Tin Mừng. Về điểm này, ngài đặt câu hỏi trực tiếp cho các tín hữu Galát ngài đặt họ trước những lựa chọn mà họ đã chọn và trước tình cảnh hiện tại của họ, điều có thể làm mất đi kinh nghiệm ân sủng họ đã sống. Và những từ ngữ mà thánh Tông đồ dùng để nói với tín hữu Galát chắc chắn không phải là những lời lịch thiệp chúng ta đã nghe điều đó. Trong các Thư khác, chúng ta dễ dàng tìm thấy cụm từ “anh chị em” hoặc “anh chị em yêu quý”; ở đây thì không. Bởi vì ngài đang tức giận. Ngài nói một cách chung chung “những người Galát” và hai lần ngài gọi họ là “những kẻ ngu xuẩn”. Ngài làm điều đó không phải vì họ không thông minh, nhưng vì hầu như họ không nhận ra họ có nguy cơ đánh mất niềm tin vào Chúa Kitô mà họ đã nhiệt thành đón nhận. Họ dại dột vì họ không nhận ra rằng điều nguy hiểm là đánh mất kho tàng quý giá, vẻ đẹp, của sự mới mẻ của Chúa Kitô. Rõ ràng thánh Tông đồ rất ngạc nhiên và buồn bã. Không phải là ngài không cảm thấy cay đắng, ngài đã kêu gọi các Kitô hữu đó nhớ lại lời loan báo đầu tiên mà ngài trao cho họ, điều mà qua đó ngài mang lại cho họ cơ hội có được một sự tự do mới, điều cho đến tận lúc này vẫn không có hy vọng Tình yêu của Chúa Kitô - nguồn ơn cứu độ Thánh tông đồ hỏi những người Galát một số câu hỏi nhắm lay chuyển lương tâm của họ đây là lý do tại sao ngài rất mạnh mẽ. Đây là những câu hỏi tu từ, vì người Galát biết rất rõ rằng việc họ đến với đức tin vào Chúa Kitô là kết quả của ân sủng nhận được nhờ lời rao giảng Tin Mừng. Nó đưa họ đến với sự khởi đầu của ơn gọi Kitô hữu. Lời mà họ đã nghe từ thánh Phaolô tập trung vào tình yêu thương của Thiên Chúa, được thể hiện trọn vẹn qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêu. Thánh Phaolô không thể tìm được cách diễn đạt thuyết phục hơn điều mà có lẽ ngài đã lặp lại với họ nhiều lần trong khi rao giảng “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” Gl 2, 20. Thánh Phaolô không muốn biết gì khác ngoài Chúa Kitô chịu đóng đinh x. 1Cr 2, 2. Người Galát phải chú ý đến sự kiện này, không để cho mình bị phân tâm bởi những lời loan báo khác. Nói tóm lại, ý định của thánh Phaolô là buộc các Kitô hữu nhận ra vấn đề và không để mình bị mê hoặc bởi tiếng còi muốn dẫn họ đến một thực hành tôn giáo chỉ dựa trên việc tuân thủ tỉ mỉ các giới luật. Bởi vì những nhà truyền giáo mới đến Galát và thuyết phục người Galát rằng họ phải quay trở lại và tuân theo các giới luật, những giới luật đã được tuân giữ và chúng đã đưa họ đến sự hoàn thiện trước khi Chúa Kitô đến, Đấng mang ơn cứu độ cách nhưng không. Đừng đặt Chúa Thánh Thần ở vị trí thứ yếu Mặt khác, những người Galát hiểu rất rõ điều mà thánh Tông đồ muốn nói đến. Chắc chắn họ đã cảm nghiệm được tác động của Chúa Thánh Thần trong các cộng đoàn lòng bác ái và nhiều đặc sủng khác cũng được thể hiện trong các Giáo hội khác cũng như ở giữa họ. Khi bị thúc ép, họ phải trả lời rằng những gì họ đã trải nghiệm là hoa trái của sự mới mẻ của Thần Khí. Do đó, họ bắt đầu đến với đức tin là sáng kiến của Thiên Chúa, chứ không phải của loài người. Chúa Thánh Linh là tác nhân trong kinh nghiệm của họ; giờ đây, đặt Người vào thứ yếu để dành ưu tiên cho các hoạt động của mình - nghĩa là để thực hiện các giới luật của Lề Luật – thật là điều ngu ngốc. Sự thánh thiện đến từ Chúa Thánh Linh và đó là ơn cứu độ được ban nhưng không của Chúa Giêsu điều này làm cho chúng ta được trở nên công chính. Chúa Kitô chịu đóng đinh và sống lại có vẫn là trung tâm của cuộc sống hàng ngày của tôi không? Theo cách này, thánh Phaolô cũng mời gọi chúng ta suy tư về cách chúng ta sống đức tin. Tình yêu của Chúa Kitô chịu đóng đinh và sống lại có vẫn là trung tâm của cuộc sống hàng ngày của chúng ta như nguồn cứu rỗi, hay chúng ta hài lòng với một số hình thức tôn giáo để cứu vãn lương tâm của chúng ta? Chúng ta sống đức tin như thế nào? Chúng ta có gắn bó với kho tàng quý giá, với vẻ đẹp của sự mới mẻ của Chúa Kitô, hay chúng ta thích điều gì đó thu hút chúng ta vào lúc này nhưng sau đó lại để tâm hồn chúng ta trống vắng? Sự phù du thường gõ cửa vào ban ngày, nhưng đó là một ảo ảnh đáng buồn, khiến chúng ta rơi vào sự hời hợt và ngăn cản chúng ta nhận ra điều gì thực sự đáng để chúng ta sống vì đó. Tuy nhiên, thưa anh chị em, chúng ta hãy vững tin rằng, ngay cả khi chúng ta bị cám dỗ quay lưng, Thiên Chúa vẫn tiếp tục ban tặng các ân sủng của Nguời. Những điều đã xảy ra với người Galát cũng thường xảy ra trong lịch sử, cũng xảy ra hôm nay. Thậm chí ngày nay, một số người đến rỉ rả vào tai chúng ta “Không, sự thánh thiện nằm trong những giới luật này, trong những điều này, bạn phải làm điều này và điều này”, và họ đưa ra chúng ta đến việc thực hành tôn giáo cứng nhắc, sự cứng nhắc làm mất đi sự tự do trong Chúa Thánh Linh, Đấng ban cho chúng ta ơn cứu độ của Chúa Kitô. Hãy cẩn thận với sự cứng nhắc mà họ đề xuất với anh chị em hãy cẩn thận. Bởi vì đằng sau mọi sự cứng nhắc đều có điều gì đó xấu, không có Thánh Thần của Thiên Chúa. Và vì lý do này, Thư này sẽ giúp chúng ta không nghe theo những đề xuất hơi cực đoan, khiến chúng ta bước lùi trong đời sống thiêng liêng của mình, và nó sẽ giúp chúng ta tiến bước trong ơn gọi Phục sinh của Chúa Giêsu. Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta Đây là điều mà thánh Tông đồ khẳng định với các tín hữu Galát, khi nhắc lại rằng Chúa Cha “rộng ban Thần Khí cho anh em và thực hiện những phép lạ ở giữa anh em” 3, 5. Ngài dùng thì hiện tại - “cho”, “thực hiện” - không dùng thì quá khứ. Ngài không nói “Chúa Cha đã rộng ban Thần Khí”, chương 3, câu 5. Bởi vì, bất chấp mọi khó khăn mà chúng ta có thể gây ra cho hoạt động của Người, cho dù chúng ta tội lỗi, Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta mà vẫn ở lại với chúng ta bằng tình yêu thương xót của Người. Thiên Chúa luôn gần gũi chúng ta bằng lòng nhân từ của Người. Cũng giống như người cha ngày nào cũng lên sân thượng nhìn xem con mình có trở về Chúa Cha không mệt mỏi yêu thương chúng ta. Chúng ta hãy xin ơn khôn ngoan để luôn ý thức về thực tại này và loại bỏ những tư tưởng thủ cựu đưa chúng ta đến một cuộc sống khổ hạnh giả tạo, xa rời sự phục sinh của Chúa Kitô. Khổ hạnh là cần thiết, nhưng khổ hạnh cách khôn ngoan, không phải là giả tạo. Ngày Thế giới cầu nguyện cho việc chăm sóc thụ tạo Trong lời chào các tín hữu bằng tiếng Ý, Đức Thánh Cha nhắc rằng ngày 1/9 là Ngày Thế giới cầu nguyện cho việc chăm sóc thụ tạo, và bắt đầu “Thời gian của Thụ tạo”, thời gian sẽ kết thúc vào ngày 4/10, lễ thánh Phanxicô Assisi. Đức Thánh Cha nhắc rằng đề tài của Ngày này năm nay là “Một căn nhà cho tất cả? Canh tân Ngôi nhà của Thiên Chúa”. Đức Thánh Cha cho biết ngài cùng với Đức Thượng phụ Bartolomeo của Chính Thống và Đức tổng giám mục Justin Welby của Anh giáo đã viết một Sứ điệp nhân Ngày này. Sứ điệp sẽ được công bố trong những ngày tới đây. Đức Thánh Cha mời gọi “Cùng với các anh chị em của các Giáo hội Kitô khác, chúng ta hãy cầu nguyện và hành động vì ngôi nhà chung của chúng ta, trong thời gian khủng hoảng của hành tinh này”.
Thánh Phaolô đã reo lên Lời Chúa là lời hằng sống. Hr 4,12. Lời hằng sống có nghĩa là Lời Chúa vẫn mãi mãi là tiếng nói trong hiện tại, đang ngân vang, được lặp lại không ngừng, liên tục, mỗi ngày vẫn phát xuất từ trái tim Chúa để hướng về nhân loại, mỗi ngày vẫn phát xuất từ trái tim Chúa để hướng về nhân loại, mỗi ngày nói mỗi mới, thay đổi tuỳ trường hợp riêng cho từng cá nhân, nhắm từng người để soi sáng họ. “Ngôi Lời – tiếng nói, lời nói – là Ánh Sáng soi cho mọi người” Ga 1,9. Không có ai mà không được đón nhận Lời Chúa. Hãy cùng đọc và suy niệm lời Chúa qua các bài đọc, tin mừng ngày mai! Bạn có thể xem các bài đọc bằng Tiếng Anh tại LỜI CHÚA BÀI ĐỌC & TIN MỪNG NGÀY MAI BÀI ĐỌC I 2 Cr 1, 18-22"Đức Giêsu không phải vừa 'Có' lại vừa 'Không', nhưng nơi Người chỉ 'Có' mà thôi".Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu em thân mến, xin Thiên Chúa là Đấng trung tín, chứng giám cho rằng lời nói của chúng tôi đối với anh em không phải là vừa "Có" lại vừa "Không". Quả thế, Con Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô, Đấng mà tôi, Silvanô và Timôthêu đã rao giảng nơi anh em, Người không phải vừa "Có" lại vừa "Không"; trái lại, nơi Người chỉ là "Có" mà thôi. Bởi chưng bao nhiêu lời hứa của Thiên Chúa đã thành "Có" ở nơi Người. Vì thế, nhờ Người mà chúng tôi hô lên lời "Amen" tôn vinh Thiên Chúa. Vậy Đấng đã làm cho chúng tôi và anh em được đứng vững trong Đức Kitô, và đã xức dầu cho chúng ta, chính là Thiên Chúa, Ngài đã ghi dấu trên mình chúng ta, và đã ban vào lòng chúng ta bảo chứng của Thánh Thần. Đó là lời CA Tv 118, 129. 130. 131. 132. 133. 135Đáp Lạy Chúa, xin tỏ cho tôi tớ Chúa thấy long nhan hiền hậu của Chúa c. 135a.Xướng 1 Kỳ diệu thay những lời Ngài nghiêm huấn, bởi thế linh hồn con vẫn tuân theo. - Sự mạc khải lời Ngài soi sáng, và dạy bảo những người chưa kinh nghiệm. - Con há miệng để hút nguồn sinh khí, vì con ham muốn những chỉ thị của Ngài. - Xin Chúa nhìn lại thân con và thương xót, như Chúa quen xử với những người yêu mến danh Chúa. - Xin hướng dẫn con bước theo lời răn của Chúa, và chớ để điều gian ác thống trị trong mình con. - Xin tỏ cho tôi tớ Ngài thấy long nhan hiền hậu, và dạy bảo con những thánh chỉ của Ngài. - Ga 8, 12Alleluia, alleluia! - Chúa phán "Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống". - ÂM Mt 5, 13-16"Các con là sự sáng thế gian".Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng "Các con là muối đất. Nếu muối đã lạt, người ta biết lấy gì mà ướp cho mặn lại? Muối đó không còn xử dụng vào việc chi nữa, chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó. Các con là sự sáng thế gian. Một thành phố xây dựng trên núi, không thể che giấu được. Và người ta cũng không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn, hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời". Đó là lời Chúa. SUY NIỆM LỜI CHÚA NGÀY MAI 13/06/23 THỨ BA TUẦN 10 TN Th. An-tôn Pa-đô-va, linh mục, tiến sĩ HT Mt 5,13-16KI-TÔ HỮU CHÍNH DANHĐức Giê-su nói với các môn đệ “Chính anh em là muốn cho đời… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian…” Mt 5, niệm Ki-tô hữu không chỉ đơn thuần là người thuộc về Đức Ki-tô nhờ lãnh nhận bí tích Rửa tội, tuân giữ một số lề luật, thực hành một số lễ nghi. Bằng hình ảnh hạt muối và ánh sáng, Chúa Giê-su cho biết căn tính và sứ mạng của họ không phải là đóng băng, co cụm trong nội bộ của mình mà phải toả lan như ánh sáng, phải tác động và làm tươi mới như muối ướp trần gian. Người ki-tô hữu chính danh phải là một tông đồ, một chứng nhân của Đức Ki-tô bằng tất cả cuộc sống của mình, chứ không phải chỉ giới hạn tại một số nơi, trong một số thời gian nào đó, hoặc trong một số lãnh vực nào đó mà Bạn Muốn được như thế, người ki-tô hữu phải nên như một chén thánh chứa đầy Chúa Ki-tô nhờ cuộc sống kết hợp thân thiết với Ngài bằng bí tích Thánh Thể và bằng đời sống cầu nguyện, nghiền ngẫm đến độ thấm nhuần Lời Chúa. Người ki-tô hữu chính danh như thế sẽ trở nên giống Đức Ki-tô đến mức mọi tư tưởng, lời nói cũng như việc làm của họ, nói tắt cả cuộc sống họ trở nên như hoạ ảnh, là hiện thân của chính Đức Ki-tô. Mời bạn kiểm điểm đời sống và lượng giá xem mình đã trở nên giống Đức Ki-tô được bao nhiêu phần trăm cuộc sống của bạn Lời Chúa Khi bắt đầu một ngày sống, trước khi khởi sự một công việc, bạn định tâm tự hỏi trong việc này, trong hoàn cảnh này, Đức Ki-tô muốn bạn hành xử như thế nào, và bạn sẽ làm theo ơn soi sáng đó của nguyện Lạy Chúa xin ban cho chúng con lửa yêu mến nồng nàn, để con luôn biết làm chứng cho Chúa trong mọi việc của cuộc sống hằng ngày. LẼ SỐNG TRONG LỜI CHÚA NGÀY MAI 13 Tháng Sáu Hãy Mai Táng Chính Mình Một vị linh mục nọ đã có một sáng kiến rất ngộ nghĩnh để đánh động giáo dân trong giáo xứ. Một buổi sáng Chúa Nhật nọ, dân chúng bỗng nghe một lời rao báo như sau "Một nhân vật trong giáo xứ vừa qua đời. Tang lễ sẽ được cử hành vào sáng thứ Tư tới". Nghe lời loan báo ấy, cả giáo xứ nhốn nháo lên. Người nào cũng muốn biết con người quan trọng ấy là ai. úng ngày tang lễ, mọi người trong giáo xứ nườm nượp kéo nhau đến nhà thờ. Từ cung thánh cho đến cuối nhà thờ, không còn một chỗ trống. Người ta đến không phải để cầu nguyện cho người quá cố cho bằng để nhìn mặt lần cuối cùng con người mà ai cũng muốn biết. Sau thánh lễ, vị linh mục đến mở nắp quan tài để cho mọi người đến chào từ biệt lần cuối cùng người quá cố. Ai ai cũng sắp hàng để nhìn cho kỳ được người chết. Nhưng ai cũng đều ngạc nhiên, bởi vì thay cho thi hài của người chết, mỗi người chỉ nhìn thấy trong quan tài một tấm gương và dĩ nhiên, khi cúi nhìn vào quan tài, mỗi người chỉ nhìn thấy dung nhan của mình mà thôi. Chờ cho mọi người làm xong nghi thức từ biệt ấy, vị linh mục mới giải thích "Như anh chị em đã có thể nhận thấy, tôi đã cho đặt vào trong quan tài một tấm kính. Con người mà anh chị em nhìn thấy trong quan tài không ai khác hơn là chính mỗi người trong chúng ta. Vâng, đúng thế, thưa anh chị em, mỗi người chúng ta cần phải mai táng chính mình... Thánh lễ vừa rồi đã được cử hành cho tất cả chúng ta". Bắt đầu sứ mệnh công khai của Ngài bằng cử chỉ dìm mình xuống dòng nước sông Giodan, Chúa Giêsu muốn loan báo cho mọi người thấy rằng Ngài đã vâng phục Ý Chúa Cha để đi vào Cái Chết và nhờ đó cứu rỗi nhân loại. Một cách nào đó, mầu nhiệm của Sự Chết và Sống lại đã được diễn tả qua việc Chúa Giêsu dìm mình trong dòng nước. Thiết lập Phép Rửa như cửa ngõ để đưa chúng ta vào cuộc sống trường sinh, Chúa Giêsu cung muốn chúng ta tham dự vào mầu nhiệm chết và sống lại của Ngài. Dìm mình trong nước của Phép Rửa, chúng ta khởi đầu cuộc sống Kitô hữu bằng chính cái chết. Sống đối với chung ta có nghĩa là chết chết cho những khuynh hướng xấu, chết cho những đam mê xấu, chết cho tội lỗi, chết cho ích kỷ, chết cho hận thù. Cuộc sống do đó đối với chúng ta cũng là một cuộc mai táng liên lỉ. Cũng như hạt lúa rơi xuống đất phải thối đi, cũng thế chúng ta phải chấp nhận chôn vùi con người cũ tội lỗi của chúng ta. Trích sách Lẽ Sống HẠNH CÁC THÁNH NGÀY MAI 13 Tháng Sáu Thánh Antôn ở Padua 1195-1231 Quy tắc đời sống của Thánh Antôn là "từ bỏ mọi sự và theo ức Kitô," đúng như lời ghi trong Phúc Âm. Nhiều lần Thiên Chúa đã gọi thánh nhân đến các hoạch định mới và ngài đã đáp ứng một cách nhiệt thành và tận tụy hy sinh để phục vụ ức Giêsu Kitô cách trọn vẹn hơn. Vị thánh rất nổi tiếng này sinh ở Bồ ào Nha, và tên rửa tội là "Ferdinand." Ngài được sự giáo dục kỹ lưỡng của các tu sĩ dòng Augustine và sau đó đã gia nhập Dòng. Khi hai mươi lăm tuổi, cuộc đời ngài chuyển hướng. Lúc bấy giờ, ngài nghe tin một số tu sĩ dòng Phanxicô bị bách hại bởi người Moor và được tử đạo ở Morocco - đó là Thánh Bernard và các bạn. Ferdinand khao khát được chết vì ức Kitô nên ngài gia nhập dòng Phanxicô. Lúc bấy giờ, dòng này mới thành lập và Thánh Phanxicô vẫn còn sống. Ferdinand lấy tên là "Antôn" và đến Phi Châu để rao giảng cho người Moor. Nhưng ngay sau đó, ngài lâm bệnh nặng phải trở về Ý và sống trong một nơi hiu quạnh, chấp nhận công việc rửa chén trong nhà bếp và dành thời giờ để cầu nguyện, đọc Kinh Thánh. Thầy Antôn không bao giờ nói về mình, nên không ai trong nhà dòng biết được sự thông minh và tài giỏi thực sự của ngài. Mãi cho đến khi có buổi lễ tấn phong, và vì không ai trong dòng kịp chuẩn bị nên Thầy Antôn đã được chọn để diễn giảng. Những năm tìm kiếm ức Kitô trong sự cầu nguyện, trong Kinh Thánh và phục vụ Chúa trong sự nghèo hèn, khiêm hạ đã chuẩn bị Thầy Antôn được sẵn sàng để Thần Khí dùng đến khả năng của thầy. Bài giảng của thầy đã làm mọi người kinh ngạc và từ đó trở đi, cho đến khi ngài từ trần vào chín năm sau đó, Thầy Antôn đã đi rao giảng khắp nước Ý. Ngài nổi tiếng đến nỗi dân chúng phải đóng cửa tiệm để đến nghe ngài giảng. ược công nhận là một người siêng năng cầu nguyện, hiểu biết Kinh Thánh và thần học, Thầy Antôn là thầy dòng đầu tiên được dạy thần học cho các thầy khác. Kiến thức uyên thâm của thầy lại được Thiên Chúa dùng để rao giảng cho những người lạc giáo và hoán cải những kẻ lầm lạc. Người thời ấy thường tìm đến Thầy Antôn để xin chữa lành hồn xác. Nhiều phép lạ đã xảy ra qua lời cầu bầu của thánh nhân ngay khi còn sống. Thầy Antôn từ trần ở Arcella, gần Padua, nước Ý khi ngài ba mươi sáu tuổi. Chỉ một năm sau, ngài đã được ức Giáo Hoàng Grêgôriô IX phong thánh. Người ta thường vẽ Thánh Antôn bế Hài Nhi Giêsu vì ức Giêsu đã hiện ra với ngài. Thánh Antôn là người hiểu biết thâm sâu, nhất là về Kinh Thánh, do đó ức Giáo Hoàng Piô XII đã tuyên xưng ngài là "Tiến Sĩ Tin Mừng," hoặc Tiến Sĩ Kinh Thánh. Lời Bàn Nhiều khi chúng ta muốn được người đời để ý đến những công việc tốt lành của chúng ta, nhưng ít ai muốn chú ý. ó là lúc chúng ta cầu xin Thánh Antôn giúp chúng ta vui lòng chấp nhận, và chú tâm đến những gì chúng ta có thể đem lại cho đời, hơn là nhận được từ người đời. Lời Trích Trong một bài giảng, Thánh Antôn nói "Các thánh giống như các vì sao. Trong sự quan phòng của Thiên Chúa, Ngài đã giấu họ nơi kín đáo để đừng chiếu tỏa trước mặt người khác dù đôi khi họ muốn như vậy. Tuy nhiên, họ phải sẵn sàng hy sinh đời sống chiêm niệm âm thầm để đổi lấy việc bác ái, một khi tâm hồn họ nhận ra đó là lời mời của ức Kitô."
Tĩnh Tâm Với Tin Mừng Theo Thánh Gio-an Tác giả Nguyễn Công Đoan ngày 17 tháng 4 năm 2018 Nguồn Đọc Tin Mừng theo Thánh Gio-an ta thường thấy thích thú, đồng thời cũng cảm thấy “chóng mặt”. Dựa trên hình ảnh bốn sinh vật trong thị kiến về xa giá của Thiên Chúa trong sách Ê-dê-ki-en, truyền thống đã dùng làm hình ảnh tượng trưng của bốn sách Tin Mừng “4 Tôi nhìn, thì kìa một cơn gió bão từ phương Bắc thổi đến ; có đám mây lớn, có lửa loé ra và ánh sáng chiếu toả chung quanh ; ở chính giữa như có một kim loại lấp lánh, ở chính giữa lửa. 5 Ở chính giữa, có cái gìtựa như bốn sinh vật. Đây là dáng vẻ của chúng chúng trông giống như người ta. 6 Mỗi sinh vật có bốn mặt và bốn cánh. 7 Còn chân của chúng thì thẳng ; bàn chân tựa bàn chân con bê, lấp lánh như đồng sáng loáng. 8 Bên dưới cánh, có những bàn tay giống tay người quay về bốn phía ; mặt và cánh của bốn sinh vật cũng đều như thế. 9 Cánh của chúng giáp vào nhau. Lúc đi, chúng không quay mặt vào nhau, nhưng cứ thẳng phía trước mặt mà tiến. 10 Còn bộ mặt của chúng, thì chúng đều có mặt người, cả bốn đều có mặt sư tử bên phải, cả bốn đều có mặt bò rừng bên trái, cả bốn đều có mặt phượng hoàng. 11 Đó là mặt của chúng. Còn cánh của chúng thì giương lên cao. Mỗi sinh vật có hai cánh giáp vào nhau và hai cánh khác phủ thân mình. 12 Chúng cứ thẳng phía trước mặt mà đi, thần khí đẩy phía nào, chúng đi phía đó ; lúc đi chúng không quay mặt vào nhau. 13 Ở giữa các sinh vật ấy, có cái gì giống như than hồng rực lửa, giống như ngọn đuốc, đang di chuyển giữa các sinh vật. Lửa phát ra ánh sáng và từ lửa phóng ra những tia chớp. 14 Các sinh vật đi đi lại lại nhanh như chớp” Ed 1,4-14. Bốn sinh vật làm thành cỗ xe xa giá của Thiên Chúa mỗi sinh vật đều mang bốn khuôn mặt, quả là một hình ảnh đẹp để diễn tả bốn sách Tin Mừng. Bốn cuốn sách khác nhau trình bày cùng một Tin Mừng, nhưng mang bốn khuôn mặt khác nhau. Bốn sinh vật làm thành xa giá của Thiên Chúa, bốn sách Tin Mừng là “xa giá” của Đức Giê-su Ki-tô để di chuyển đến tận cùng trái đất và mọi loài thụ tạo. “Mặt người” tượng trưng cho Tin Mừng Mát-thêu, vì sách này bắt đầu với gia phả, kể nguồn gốc Chúa Giê-su trong dòng dõi loài người, “Mặt sư tử” tượng trưng cho Tin Mừng Mác-cô, vì sách này mở đầu với tiếng hô trong hoang địa, “Mặt bò rừng” tượng trưng cho Tin Mừng Lu-ca, vì sách này mở đầu với việc tư tế Da-ca-ri-a phục vụ trong Đền Thờ, “Mặt phượng hoàng” tượng trưng cho Tin Mừng Gio-an, vì sách này mở đầu với nguồn gốc Chúa Giê-su từ cung lòng Thiên Chúa. Phương hoàng vẫn là loài chim bay cao tận đỉnh trời. Chúng ta chóng mặt vừa vì lối văn của Gio-an, vừa vì nội dung luôn nối kết đất với trời nhằm giúp chúng ta “tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống đời đời.” Ga 20,31 Thêm vào đó, chúng ta hay bị “nhồi sọ” rằng sách Tin Mừng Gio-an cao siêu, khó hiểu. Cao siêu thì chắc chắn rồi, nhưng khó hiểu hay không là tùy ta có tìm được hay không chìa khóa để vào lâu đài và nút bật đèn cho có ánh sáng dẫn đường đưa tới kho tàng trong lâu đài là Đức Giê-su Ki-tô Con Thiên Chúa. * * * Lời Tựa chính là Chìa khóa được cắm sẵn ở cửa. Nút bật đèn soi dưới chân cũng được chỉ dẫn ở ngay cửa, đó là toàn bộ Cựu Ước từ sách Sáng Thế tới các sách Khôn ngoan. 1 Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành Ga 1, 1-3 … Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giê-su Ki-tô mà có. 18 Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả ; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã kể cho chúng ta biết.” Còn nút bật đèn soi từ trên trần xuống, lại đặt ở cuối hành lang, khi Chúa phục sinh đến và đứng giữa nhóm Mười Một “19 Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói "Bình an cho anh em !" 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông "Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” Ga 20,19-21. Trong bữa ăn cuối cùng với họ, Chúa Giê-su đã nói rõ “16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. 17 Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” Ga 14,16-17. “12 Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. 13 Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Ga 16,12-15. Thần Khí mà Chúa Giê-su xin Cha gởi đến vừa là Thần Khí của sự thật, vừa là ơn tha tội. Các lời hứa Giao Ước Mới trong sách I-sai-a 54,1, Giê-rê-mi-a 31,33-34, Ê-dê-ki-en đều bao gồm ơn tha tội và ơn “biết” Thiên Chúa, tức là hai mặt của tương quan mới với Thiên Chúa trong Giao Ước mới, nhưGiê-rê-mi-a loan báo “33 Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta. 34 Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia "Hãy học cho biết ĐỨC CHÚA", vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta - sấm ngôn của ĐỨC sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa. Ê-dê-ki-en cho biết cả ơn tha tội và ơn biết Thiên Chúa đều do tác động của Thần Khí của Thiên Chúa “25 Rồi Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch, các ngươi sẽ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần. 26 Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. 27 Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành. 28 Các ngươi sẽ cư ngụ trong đất Ta đã ban cho tổ tiên các ngươi. Các ngươi sẽ là dân của Ta. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi. 29 Ta sẽ cứu các ngươi khỏi mọi ô uế” Ed 36,25-28. Chúa Giê-su đã thiết lập Giao Ước Mới bằng Máu của Người, “Con Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian.” Ga 1,29. Từ trên thập giá, Người đã trao hơi thở [Thần Khí], như khi tạo dựng Thiên Chúa đã thổi hơi vào lỗ mũi con người x. St 2,7. Khi đã phục sinh Chúa đến thổi hơi vào các môn đệ và nói “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” Ga 20,22. Các môn đệ đã sống với Chúa Giê-su cũng chỉ hiểu được Mầu nhiệm Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, là Con Thiên Chúa nhờ luồng sáng của Lời Chúa trong Cựu Ước và Thánh Thần. Các sách Tin Mừng được viết ra cho chúng ta là do Thánh Thần linh hứng và đều quy chiếu vào Cựu Ước để giải nghĩa nhiệm mầu cho chúng ta khi kể cho chúng ta nghe lời Chúa Giê-su đã nói và việc Chúa đã làm. Các khoa học liên quan tới Thánh Kinh lịch sử, khảo cổ, ngôn ngữ, các phương pháp phân tích… giúp ta hiểu nhiều điều bằng trí tuệ. Nhưng Thánh Kinh là Lời Chúa do Thánh Thần linh hứng cho các tác giả viết ra, để đưa chúng ta vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, vào kế hoạch cứu độ, ý định bày tỏ lòng yêu thương của Thiên Chúa, nên các khoa học nghiên cứu chỉ giúp chúng ta thỏa mãn trí tuệ, chứ không đưa được chúng ta vào trong Thiên Chúa, trong tình yêu của Thiên Chúa. Người ta có thể tìm được một bức thư tình của một nhân vật nổi tiếng và dùng mọi phương pháp phân tích để giải nghĩa, kể cả xác minh xem tác giả có đúng là người mà người ta nghĩ không, nhưng chẳng ai có thể vào được trong những tâm tình mà bức thư muốn truyền tải, ngoài hai người trong cuộc của mối tình ấy. Kinh Thánh là bức thư tình xuyên thế kỷ của Thiên Chúa hằng sống, do Thánh Thần của Thiên Chúa - là chính Tình Yêu nối kết Cha và Con trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, và nối kết người đón nhận Tình Yêu của Thiên Chúa vào trong mầu nhiệm của Thiên Chúa Tình Yêu – dùng con người để viết, và đầu bên kia, người nhận thư, bất cứ ai đón nhận bức thư ấy là bức thư viết cho đích danh mình, và để cho Tình Yêu ấy cuốn mình vào trong lòng Ba Ngôi Thiên Chúa, vì chỉ có “Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa” ví như nơi con người, “ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người” x. 1 Cr 2,10-11. Vậy thì chỉ có sự gặp gỡ giữa Thần Khí Thiên Chúa với thần trí con người mới đưa con người vào trong mầu nhiệm của Thiên Chúa Tình Yêu qua bức thư tình của Thiên Chúa. Một chuyên viên Thánh Kinh có thể giảng dạy, viết hàng trăm cuốn sách về Kinh Thánh, rất bác học uyên thâm, giống như bất cứ nhà bác học nào khác trong ngành chuyên môn của họ, nhưng chưa chắc đã đón nhận đó là bức thư tình của Thiên Chúa gởi cho đích danh mình. Trái lại một người quê mùa chất phác, chỉ nhớ được vài câu khi nghe đọc trong thánh lễ, nhưng lại sống như là lời của Trái Tim Thiên Chúa nói với trái tim mình, ban sức sống để soi sáng và ban sức sống cho mình suốt đời. Thời các tông đồ đã có bao nhiêu nhà thông luật ngày đêm nghiên cứu Kinh Thánh mà Chúa Giê-su nhắc đến “Các ông nghiên cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó các ông tìm được sự sống đời đời. Mà Kinh Thánh làm chứng về tôi. Các ông không muốn đến cùng tôi để tìm được sự sống” Ga 5,39-40. Các môn đệ của Chúa cũng đã từng học với các chuyên gia ấy, rồi đã được ở với Chúa mấy năm trời mà vẫn chưa hiểu, cho tới khi Chúa Phục Sinh “giải huyệt ngu” cho các ông “Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh” Lc 24,45. Nội lực để “giải được huyệt ngu” chính là Thánh Thần mà Chúa Phục Sinh đem cho các ông và cho chúng ta hôm nay Lc 24,49. Tôi nhớ có một bài của một nhà thơ Việt Nam thế kỷ 20, tựa đề “lời mẹ dặn” “Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét - dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu - dù ai ngon ngọt nuông chiều, cũng không nói yêu thành ghét”. “Lời mẹ dặn” ấy cùng với tình yêu của mẹ sẽ soi sáng cả cuộc đời của người con, sống trung thực, dù phải trá giá bằng chính mạng sống mình. Trong lịch sử Việt Nam, chúng ta có một nhân vật rất nổi tiếng đã thay đổi dòng lịch sử vì lòng hiếu thảo, ông quyết theo cha, sống chết với cha, lúc ấy bị quân Tàu bắt đem về bên kia biên giới. Nhưng tới biên giới thì cha ông bảo ông quay về, vì nợ nước nặng hơn tình nhà. Ông vâng lời cha quay về và đã giúp vua Lê Lợi xoay lại dòng lịch sử, giải phóng dân ta khỏi ách đô hộ của phương Bắc. Một lời người cha nói với người con đủ thay đổi không chỉ cuộc sống của một người con, mà thay đổi vận mạng, lịch sử của cả một dân tộc. Một lời thôi, vâng chỉ một lời của một người cha được người con đón nhận đã giúp thay đổi vận mạng cả một dân tộc, từ thân nô lệ phương Bắc lại hiên ngang làm Con Rồng Cháu Tiên, ngày ngày đứng trên mảnh đất bé nhỏ hình chữ S bên bờ Thái Bình Dương, đón nắng mặt trời lên thẳng từ chân trời, không bị bóng đế quốc nào che khuất ! Việt Nam quê hương tôi ! Việt Nam đất nước tôi ! Việt Nam hai ngàn năm lịch sử chống ngoại xâm, một Mẹ Âu Cơ tay bồng trăm đứa con đi đánh giặc, lần lượt xua tan năm đế quốc sừng sỏ nhất của mỗi thời đại. Một lời người cha của Nguyễn Trãi nói với ông, đã thành lời của Mẹ Âu Cơ nói với cả trăm đứa con. Chỉ một lời thôi, Mẹ Âu Cơ ơi ! Mẹ thật tuyệt vời ! Đế quốc nào nữa dám lăm le ? Coi chừng Mẹ tôi sẵn sàng ra tay nữa đấy nhé ! Thế còn Lời Chúa Toàn Năng, Đấng phán một lời làm nên trời đất nói với tôi, có thay đổi được cuộc đời tôi và giúp tôi góp phần thay đổi thế giới đầy tội ác, phi nhân phi nghĩa ngày nay không ? Tùy tôi đấy. Chẳng lẽ tôi có thể làm mất mặt Thiên Chúa toàn năng mà tôi tuyên xưng “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất”. Chúa phán một lời dựng nên trời đất mà không biến đổi được một con người bé nhỏ là tôi… Tôi to gan thật ! Nhưng Chúa đã lỡ chấp nhận để lời toàn năng của Chúa lệ thuộc vào tôi, nên Chúa đành chịu đấy ! Tôi có chịu nghĩ lại không ? Sách Tin Mừng theo thánh Gio-an đưa chúng ta vào mầu nhiệm Chúa Giê-su Ki-tô bằng con đường chiêm niệm rất ngọt ngào. Có thể ví như khi đứng trước một lâu đài, chúng ta thấy có vẻ kỳ bí và sợ bước vào, nhưng nếu có một người sống trong lâu đài ấy, biết mọi ngóc ngách, cầm tay dắt chúng ta vào, vừa dẫn đi vừa giải thích cho chúng ta thì chúng ta hết sợ. Cứ để người ấy dẫn đi và uống lấy những lời giải thích, ta sẽ ngất ngây chiêm ngắm những kỳ diệu trong lâu đài và không muốn ra nữa, như hai người môn đệ đầu tiên được Chúa mời “đến mà xem, họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy”… Ga 1,39. Rồi ở luôn ! Bây giờ chúng ta hãy xin Chúa cho cùng đi theo với hai người môn đệ đầu tiên này, “đến xem nơi Chúa ở, ở lại với Chúa ngày hôm ấy”… rồi nấn ná xin ơn ở lại luôn. 1. Lời Tựa Mười tám câu đầu sách Tin Mừng này được coi như lời tựa. Lời tựa một cuốn sách bao giờ cũng nhằm giới thiệu tổng quát chủ đề, mục đích, phương pháp nghiên cứu và cách trình bày. Lời tựa của sách Tin Mừng thứ tư khởi từ “thân thế và sự nghiệp” của “Ngôi Lời”. Người là “Lời” hiện hữu từ ban đầu ở nơi Thiên Chúa. “Lời” của loài người thì chỉ diễn tả ra, còn Lời của Thiên Chúa thì vừa diễn tả chính Thiên Chúa vừa là Thiên Chúa. Thư Cô-lô-xê dùng kiểu nói tương tự, diễn tả Người là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình”. Hình ảnh của Thiên Chúa là thực thể cùng hiện hữu và là Thiên Chúa, không tách rời khỏi Thiên Chúa, ở nơi Thiên Chúa, luôn hướng về Thiên Chúa. “Hình ảnh” của chúng ta, lời chúng ta diễn tả chính mình, thay đổi tùy lúc, không nhất thiết trung thực ; vì thế nhiều khi chúng ta phải hỏi “anh/chị nghĩ anh/chị là ai thế ?” khi thấy một người không biết mình là ai, tưởng mình là ông to bà lớn và cư xử như ông to bà lớn, tới mức bệnh tâm thần, tưởng mình là vua, thậm chí là một trong Ba Ngôi Thiên Chúa nữa. Lời, hình ảnh của chúng ta diễn tả cái chúng ta mơ ước, mong muốn chứ không phải thật. Đánh phấn tô son hàng giờ trước gương là để tạo khuôn mặt mình muốn. Có chuyện cô gái trông thật xinh đẹp vẫy xích lô từ Chợ Saigon đi xuống Chợ Lớn giữa mùa hè, mồ hôi ra làm trôi son phấn ... Khi tới nơi quay mặt lại trả tiền thì bác đạp xích lô hét lên, ù té chạy mất, vì tưởng gặp ma giữa ban ngày ! Cái mơ ước đầu tiên quỷ đã bày cho con người là mơ ước nên bằng, nên như Thiên Chúa, và đi đường tắt để đạt tới đích cưỡng lời Thiên Chúa, để tỏ ra mình bằng Thiên Chúa. Kết quả là nên bằng với thằng “cha sự dối trá”. Lời Thiên Chúa làm nên mọi sự. “Thiên Chúa phán Hãy có ánh sáng’, liền có ánh sáng.” Với mười lần “phán”, Thiên Chúa đã làm nên cả trời đất và mọi loài. Chỉ có con người được Thiên Chúa tạo thành “giống hình ảnh” của Thiên Chúa [chứ không phải LÀ hình ảnh của Thiên Chúa] mới có thể cưỡng lại Lời Thiên Chúa. Thiên Chúa sai Mô-sê đem MƯỜI LỜI cho vua Pha-ra-ô, mười lần Pha-ra-ô đều cưỡng lại, nên trở thành mười tai họa cho vua và dân. Ở núi Xi-nai Thiên Chúa tuyên bố nhận đám dân hỗn tạp vừa được Người giải thoát khỏi ách nô lệ, làm dân của Thiên Chúa và ban cho họ MƯỜI LỜI để sống làm Dân của Thiên Chúa. Tương lai của họ tùy thuộc họ có làm theo những lời ấy hay không nếu họ làm theo thì họ sẽ được vào Đất của Thiên Chúa, cưỡng lại thì họ không phải là Dân của Thiên Chúa nữa, nên sẽ không được vào. Khi vào rồi họ vẫn phải tiếp tục làm theo Mười Lời đó để “làm dân của Thiên Chúa”, nếu không thì sẽ bị đuổi ra, sẽ phải lưu đầy xa Đất của Thiên Chúa. Con người được giao cho hai nhiệm vụ quản lý những gì Thiên Chúa đã tạo thành và thi hành,làm theo Mười Lời Thiên Chúa đã ban để sống làm dân của Thiên Chúa và được hưởng những gì Thiên Chúa hứa. Lời con người nói thì chỉ bay theo gió, Lời Thiên Chúa thì làm nên mọi sự. Vinh dự của con người là nếu làm theo Lời Thiên Chúa thì cũng làm được điều Thiên Chúa giao cho mình. Thiên Chúa đã hạ mình xuống và nâng con người lên bằng cách đó lời Thiên Chúa lệ thuộc vào con người, con người được dự phần vào quyền năng của Thiên Chúa bằng cách làm theo Lời Thiên Chúa. Ngày nay mọi thứ máy móc, dụng cụ đều có bản chỉ dẫn kèm theo. Muốn sử dụng được phải làm theo những chỉ dẫn, vì người chế tạo mới biết và cho biết cách sử dụng. Người ta sẵn sàng tìm người giúp hiểu đúng lời chỉ dẫn, và tuân theo… rất tỉ mỉ. Thế nhưng người ta lại không muốn làm theo lời chỉ dẫn của Thiên Chúa, nhưng muốn làm theo ý mình. “Thiên Chúa biết ta được Người nhồi nắn bằng gì” Tv 103/102,14 và muốn chúng ta nên như thế nào, mới có thể chỉ dẫn cho chúng ta biết làm thế nào để trở nên chính mình, để làm dân, làm con của Thiên Chúa. Cuộc xung đột giữa ánh sáng và bóng tối ngay từ lúc tạo thành trời đất thì Thiên Chúa đã giải quyết bằng Lời của Ngài, tách ánh sáng ra khỏi bóng tối, ngày và đêm phân biệt rõ ràng. Nhưng từ khi tạo dựng nên con người thì Thiên Chúa gặp sự từ chối, chống đối Thiên Chúa bị từ chối. Thiên Chúa muốn ban cho con người sự sống, thế mà cũng bị từ chối. Từ chối sự sống thì chỉ còn sự chết, cũng như từ chối ánh sáng thì chỉ còn bóng tối. Nhưng Thiên Chúa không ép buộc, cũng không chịu thua, vì Thiên Chúa trung thành với chính mình, không thể rút lại lời hứa ban sự sống. Thua keo này Thiên Chúa bày keo khác. Gởi Lời đến bằng công trình tạo dựng thì con người “mù” hoặc lóa mắt, không nhận ra, tưởng đó là thần và thờ mặt trời, mặt trăng, sao trời ; gởi Lời đến bằng lời loài người qua Môsê và các ngôn sứ, thì con người “điếc” không nghe. Kế sách cuối cùng của Thiên Chúa là gởi Lời đến làm người bằng xương bằng thịt “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”. Kết quả ra sao ? Có hơn gì không ? Bên cạnh đó, Thiên Chúa còn gởi một người đến làm chứng cho ánh sáng, cho sự thật, để mọi người nhờ ông mà tin. Kết quả ra sao ? Có hiệu lực không ? Con người vẫn có thể sáng mắt thính tai, hay mù và điếc “có chọn lựa” ! Thiên Chúa chẳng cưỡng ép được con người, vì đã “lỡ” làm nên con người có tự do chọn lựa, có thể đối diện với Thiên Chúa, có thể đáp lời hay từ chối Thiên Chúa. Con Thiên Chúa đến làm người, có họ có tên, có nơi sinh, nơi sống ở giữa chúng ta, để nói với chúng ta bằng môi miệng của một con người, bằng tiếng nói và ngôn ngữ của loài người. Xưa Thiên Chúa ban Mười Lời để người ta sống làm dân của Thiên Chúa và nhờ thế được ở trên đất của Thiên Chúa. Đó mới là bài tập ; nay mới là quyết liệt, định đoạt số phận đời đời Thiên Chúa gởi nguyên khối cả Lời của Người, cốt để cho chúng ta được trở nên con Thiên Chúa giống như Người và được sống đời đời với Người. Nhận hay không, nghĩa là tin hay không. Nhận nghĩa là tin rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, thì được quyền trở nên Con Thiên Chúa, được biết Thiên Chúa một cách thiết thân như con biết cha, vì Người là Con Một từ trong lòng Cha đến để kể cho chúng ta. Tất cả vũ trụ nói với chúng ta về Thiên Chúa, “kể cho chúng ta vinh quang của Thiên Chúa” bằng cách phản ánh vinh quang ấy qua vẻ đẹp kỳ diệu. Thiên Chúa sai Mô-sê và các ngôn sứ đến nói lời của Thiên Chúa bằng lời loài người, nhưng chưa bao giờ, và chưa có ai đươc thấy Thiên Chúa. Ông Mô-sê xin được thấy mặt Thiên Chúa, thì Thiên Chúa trả lời không được ! Thấy là chết liền ! x. Xh 33,18-23. Ở núi Xi-nai, cả toàn dân của Thiên Chúa, khi nghe tiếng của Thiên Chúa thì cũng run sợ, và yêu cầu ông Mô-sê “Xin chính ông nói với chúng tôi thì chúng tôi mới dám nghe ; nhưng xin Thiên Chúa đừng nói với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết mất !” x. Xh 20,19. “Ngôi lời đã trở thành người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”, đây là nỗ lực cuối cùng của Thiên Chúa để ban ơn cho loài người, như lời mở đầu thư Híp-ri diễn tả “1 Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; 2 nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. 3 Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật. Sau khi đã tẩy trừ tội lỗi, Người lên ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời. 4 Danh hiệu Người được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu, thì Người lại trổi hơn họ bấy nhiêu.” Quả thật, “từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” Ga 1,16 tạo dựng là ơn đầu tiên, Lề Luật là ơn ban của Thiên Chúa để diễn tả tình yêu của Thiên Chúa, nay trong Đức Ki-tô Giê-su Thiên Chúa đã ban trọn khối tình yêu và thành tín của người, thành tín thực hiện mọi lời đã hứa từ xưa qua các giai đoạn, và bây giờ thì Thiên Chúa đã cho trọn khối, vì đã ban chính Con Một của Người và ban chính mình Người cùng với Con Một, vì Con Một vốn ở trong lòng Thiên Chúa, không tách rời được. “Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải diệt vong, nhưng có sự sống đời đời.” Ga 3,16. “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” Tạo dựng “nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.” Lề Luật “được ban qua Mô-sê”, là công trình của Lời ; đón nhận và thi hành thì được làm Dân của Thiên Chúa, được vào và sống trên đất của Thiên Chúa. Ân sủng và sự thật thì không phải là công trình của Người, nhưng là chính Người, Con Một của Thiên Chúa. Lời được Cha sai đến, đến bằng xương bằng thịt, để nhờ Người, Cha tự ban chính mình cho loài người chúng ta, vì tin vào Người thì được trở nên anh em của Người, vì được trở nên con Thiên Chúa “Cha của Thầy cũng là Cha của anh em” Ga 20,17. Ân sủng và sự thật ở đây tương ứng với kiểu nói quen thuộc trong Cựu Ước tiếng Híp-ri “Khe-sét và Emet” ; Khe-sét nghĩa là Tình Yêu “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi…” và Emet nghĩa là Sự Thật, tức là sự thành tín của Thiên Chúa, Thiên Chúa trung thành giữ lời đã hứa với Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp cho đất và một dòng dõi đông như sao trời cát biển ; sau này có thêm lời hứa cho Đa-vít nữa cho dòng dõi Đa-vít làm vua muôn đời. Nhờ Chúa Giê-su Ki-tô, với Người và trong Người, mọi lời hứa đã thành sự thật. Ông Mô-sê chán nản, mệt mỏi xin được chết, cũng thưa “Ấy là nếu con được ơn nghĩa Khe-sét trước mắt Ngài” Ds 11,15 ; khi năn nỉ Thiên Chúa cùng đi lên với dân, ông cũng nói ”Nếu không, làm sao người ta biết rằng con và dân Ngài được ơn nghĩa khe-sét trước mắt Ngài”, nghĩa là con và dân của Ngài được Ngài thương Xh 33,16. Sau này khi sứ thần nói với Đức Mẹ “Bà đã được nghĩa trước mặt Thiên Chúa” Lc 1,30, nghĩa là Bà được Thiên Chúa thương, chính vì thế “Bà đầy ơn phúc” Lc 1,28, bà là một khối ơn phúc, vì người Con bà sẽ sinh ra là trọn khối ân tình của Thiên Chúa cho loài người. PHƯƠNG PHÁP ĐỌC sự liên hệ mật thiết giữa Lời đã ban qua Mô-sê và các ngôn sứ và Lời do chính Lời hằng hữu đến làm người nói với chúng ta, mở cho chúng ta thấy phải đọc sách Tin Mừng này như thế nào. Trước hết, đây là một cuốn sách nên phải đọc trong mạch văn của cuốn sách, đừng lẫn lộn với ba sách Tin Mừng kia, kẻo thành ra “râu ông nọ cắm cằm bà kia” thì sẽ rối mù. Thứ hai là đừng tách ra khỏi mạch văn của toàn thể Sách Thánh từ Lời đã đến qua Mô-sê và các ngôn sứ tới Lời đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta, từ sách Sáng Thế cho tới sách Khải Huyền của Tân Ước đều do MỘT LỜI, “nhiều thể nhiều cách”, qua nhiều giai đoạn, phối hợp với nhau để đưa ta vào kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, kế hoạch được vén mở từng bước, bước trước rước bước sau, bước sau tiếp bước trước, giải thích lẫn nhau cách hài hòa, như một bản trường ca của Tình Yêu Thiên Chúa, diễn tả “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Tác giả dẫn chúng ta vào khúc tuyệt đỉnh của bản trường ca ấy, tựa đề là “Ân Sủng và Sự Thật”. Phải mở lòng, mở trí, mở tai, mở mắt mà cảm nếm từng nốt nhạc vang lên đúng trường độ và cả những dấu lặng, cảm nếm sự vang vọng giữa khúc này với khúc khác, như khi nghe một kiệt tác âm nhạc, không có gì là dư, là thừa hay thiếu ở đây. Đừng sửa tác giả. Đừng vẽ rắn thêm chân, kẻo làm hỏng hết kiệt tác đấy ! 2. Người làm chứng Làm chứng là một khái niệm và một chức năng quan trọng bậc nhất trong sách Tin Mừng thứ tư, vì Tin Mừng này muốn đưa chúng ta theo Chúa Giê-su Ki-tô vào trong lòng Thiên Chúa Cha, nơi Người vẫn ở tự đời đời, từ trước khi có trời đất, và Người đến làm người, cư ngụ giữa chúng ta trên mặt đất này, trong một giai đoạn lịch sử nhất định, để khi “bỏ thế gian mà về cùng Cha” thì đưa chúng ta vào trong lòng Chúa Cha cùng với Người “Thầy đi dọn chỗ cho anh em, rồi Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu thì anh em cũng được ở đó với Thầy” Ga 14,3. Nội dung của Tin Mừng là Thiên Chúa bày tỏ tột đỉnh Tình Yêu của Ngài đối với loài người chúng ta. “Thiên Chúa thì chưa có ai thấy bao giờ”. Chỉ có Con Một vốn ở trong lòng Cha mà đến mới có thể kể ra cho chúng ta, kể bằng chính bản thân, bằng lời nói và việc làm, bằng chính cuộc sống và chính mạng sống của Ngài nữa. Người làm chứng là người đem tính mạng của mình để bảo đảm rằng lời mình nói là đúng sự thật. Từ Hy-lạp và La-tinh “MARTYR” mà chúng ta dịch là TỬ VÌ ĐẠO, thì ý nghĩa chung của nó là “người làm chứng”. Áp dụng vào người đem mạng sống của mình ra làm chứng về đức tin, chúng ta gọi là “tử vì đạo”. Con Một Thiên Chúa đã nên một trong chúng ta để kể cho chúng ta về Thiên Chúa, Cha của Ngài và Cha của chúng ta, mà loài người chúng ta chưa ai được thấy, nên chúng ta tin là nhờ vào lời của Ngài thôi, vì thế Ngài là người làm chứng. Chúa Cha làm chứng về Ngài bằng cách cho Ngài quyền năng để làm những việc sức loài người không thể làm được, Ngài làm chứng về Chúa Cha và tình yêu của Chúa Cha bằng cách nói những lời Chúa Cha dạy Ngài nói và làm những việc Chúa Cha dạy Ngài làm x. Ga 5,19-20, cuối cùng bằng cách thí mạng sống mình để chứng tỏ Ngài yêu mến Chúa Cha và yêu mến chúng ta. Có một người Thiên Chúa sai đến làm chứng về Chúa Giê-su để mọi người nhờ ông mà tin rằng Chúa Giê-su quả là Đấng Thiên Chúa sai đến, đó là ông Gio-an Tẩy Giả. Ông cũng đã làm chứng bằng chính mạng sống của mình. “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi”, tới số không, “dê-rô” ! x. Ga 3,30. Mấy môn đệ của ông Gio-an trở thành những người đầu tiên đã tin vào Chúa Giê-su và trở thành những môn đệ đầu tiên của Chúa Giê-su x. Ga 1,36-39. Trước khi Chúa Giê-su bị nộp, vì giờ của Ngài chưa đến, Ngài lánh về nơi ông Gio-an đã làm chứng về Ngài, ở Bê-ta-ni-a bên kia sông Gio-đan, thì chúng ta được biết ở đó “Họ bảo nhau Ông Gio-an đã không làm một dấu lạ nào cả, nhưng mọi điều ông ấy nói về người này đều đúng’. Ở đó, nhiều người đã tin vào Đức Giê-su.” Ga 10,41-42.
đọc tin mừng như thế nào